Hiển thị các bài đăng có nhãn Y KHOA. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Y KHOA. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 24 tháng 7, 2012

ECG CƠ BẢN

Thật là ích lợi khi Chủ Nhât rồi mình không lười biếng ở nhà vì mình được nghe một bài giảng rất hay về : ĐIỆN TÂM ĐỒ CƠ BẢN . Bài này do PGS TRƯƠNG QUANG BÌNH soạn.
Toàn bộ có thể download từ :
https://www.dropbox.com/s/5kz7g1rmflrtvkh/2-CAC%20BUOC%20DOC%20ECG%20.pptx

Ngoài ra dưới đây là một bài về CÁCH PHÂN TÍCH  MỘT BẢN ĐIỆN TIM dùng để giảng cho SV năm thứ 3 và 4 do tui soạn.  Hình như hơi phức tạp !
https://www.dropbox.com/s/g9n3lu67fdu9xnh/ECG%20INTEPRETATION-%20A%20SYSTEMIC%20APPROACH%201embed.ppt

CHÚC CÁC BẠN GIA TĂNG NỘI CÔNG MAU CHÓNG ! 

DIABESITY - Mối liên kết nguy hiểm giữa Béo Phì và Đái Tháo Đường


DIABESITY

Một khái niệm  mới liên kết giữa BÉO PHÌ (OBESITY) và TIỂU ĐƯỜNG (DIABETES) đã được trình bày rất hấp dẫn và xúc tích vào ngày Chủ Nhật 22/7 vừa qua tại DHYD trong khuôn khổ CME của Bộ Môn Nội.

Diễn giả là TS HANH HUYNH đến từ University of Columbia (Canada).

Tóm lược bài thuyết trình như sau :
1-     Cơ chế SLB của Diabetes và Obesity
a.      Sự mất quân bình giữa hai cán cân VIÊM ( Adipokine : TNF α, IL-6) và KHÁNG VIÊM ( (Adiponectin)  tại MÔ MỠ.


b.      Sự mất quân bình giữa hoạt động của MACROPHAGE độc tế bào (M1) và MACROPHAGE bảo vệ (M2)



2-     Mô mỡ tăng : gây ra béo phì, tăng đề kháng insulin , tăng HA, RL lipid máu gây tăng tỷ lệ tử vong và bệnh tật . Điều này trở thành đại dịch toàn cầu , tác giả đã đưa ra khái niệm rất ấn tượng là The Diabetes TSUNAMI !

3-     Phòng ngừa
a.      Giảm cân : thay thế dần mô mỡ bằng cơ, chú ý đến vòng eo
b.      Vận động : có hiệu quả kháng viêm
c.      Uống nước : Giúp giảm 1.2 kg/năm.
d.      Ngủ đủ giấc : giảm khối lượng mỡ.

Tóm lại : “ Để gia tăng tuổi thọ, ĂN ÍT LẠI”  +“ VẬN ĐỘNG, VẬN ĐỘNG và VẬN ĐỘNG”.

Nhớ rằng : tiền không mua được sức khỏe.


Dr Hạnh đã trình bày rất duyên dáng và lôi cuốn một đề tài tưởng chừng như nhạt nhẽo nhờ body language rất nhuyễn. Dr Hạnh liên tục dang ngang hai cánh tay để nhấn mạnh sự mất quân bình giữa các hệ thống Viêm và kháng Viêm trong diabesity.


Sau đây là một đoạn video minh họa





TOÀN BỘ BÀI GIẢNG XEM Ở ĐÂY
https://www.dropbox.com/s/dk1c6kw6d2jqa3r/3-DIABESITY%20%20PATHOGENESIS%20%26%20PREVENTION%20CME%20DHY%20July%2022%20%202012%20%20Vietnamese%20Version%20%20Dr%20HANH%20HUYNH.pptx


https://www.dropbox.com/s/dk1c6kw6d2jqa3r/3-DIABESITY%20%20PATHOGENESIS%20%26%20PREVENTION%20CME%20DHY%20July%2022%20%202012%20%20Vietnamese%20Version%20%20Dr%20HANH%20HUYNH.pptx


Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2009

HỞ VAN HAI LÁ : NGUYÊN NHÂN

















Hôm nay các em trình một bệnh khá là gay go : bn nam , 16 tuổi có tiền căn bị bệnh cơ tim phì đại (từ năm 5 tuổi) và viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn 6 tháng trước. Nhập viện vì ho, khó thở. Khám : HA 90/60 mmHg, tim 100 lần phút, bn khó thở nhẹ khi nằm, mỏm tim ở KLS VI, ATTT 4/6 ở mỏm lan ra nách và lan dọc bở trái x ức. Gan mấp mé hạ sườn P. Phổi không ran.
Vấn đề ở đây là ATTT ở mỏm . Chúng ta đã biện luận để loại trừ các nn như hở van ba lá, thông liên thất và giữ lại chẩn đoán hở van hai lá. Như vậy hở van hai lá này do nguyên nhân nào :
Các nn của hở van hai lá .
Cấu tạo của van hai lá gồm : lá van, vòng van, dây chằng và trụ cơ . Do đó chúng ta nên xếp loại nn theo từng cấu trúc trên sẽ dễ nhớ hơn :
1- Tại van :
a. Thoái hoá nhày khiến van di chuyển quá mức (thường gặp nhất ).
b. Thấp tim : sẹo co rút lá van
c. Viêm nội tâm mạc : thủng, rách, co rút.
d. Bẩm sinh : van hai lá bị chẻ, khuyết ( thông liên nhĩ lỗ nguyên phát), bệnh cơ tim phì đại .

2- Tại vòng van :
a. Giãn vòng van : Các nguyên nhân làm giãn thất trái.
b. Vôi hoá vòng van : Thoái hóa (người già ), H/c Marfan.

3- Tại hệ dây chằng :
a. Đứt dây chằng : dạng nặng nhất trong bệnh sa van hai lá , do thoái hoá nhày
b. Thấp tim : xơ hoá , vôi hoá dây chằng.

4- Trụ cơ :
a. Đứt trụ cơ trong bệnh NMCT.
b. Rối loạn chức năng trụ cơ : bệnh thiếu máu cơ tim, bẩm sinh, bệnh thâm nhiễm (amyloid).

Trở lại bn của chúng ta. Sau khi xem xét thì bn này có các khả năng sau :
- Hở van hai lá trong bối cảnh bệnh cơ tim phì đại.
- Hở van hai lá do sa van.
- Hở van hai lá do thấp tim

Kết quả siêu âm tim : giãn thất trái và nhĩ trái, van hai lá dày, sa nhẹ, hở hai lá mức độ nặng. Dày vách liên thất.
Theo mô tả (khá sơ sài) ta ít nghĩ đến nguyên nhân thấp tim (vì không thấy mô tả các tổn thương dạng xơ hoá, co rút ở mép van cũng như hệ dây chằng). Sa van ở mức độ nhẹ không giải thích được mức độ hở nặng. Như vậy khả năng cao nhất là :
HỞ HAI LÁ TRONG BỆNH CẢNH BỆNH CƠ TIM PHÌ ĐẠI VỚI BIẾN CHỨNG VNTM DO VI KHUẨN LÀM VAN HỞ NẶNG HƠN.
Theo y văn : khoảng 60 % bệnh nhân bị BCTPĐ có bất thường cấu trúc van hai lá : tăng diện tích lá van, các lá van bị dài ra, cơ trụ bám bất thường vào lá trước của van hai lá. Khi không có các bất thường trên, mức độ hở van phụ thuộc vào độ trầm trọng của tắc nghẽn đường ra thất trái và hai lá van không áp sát vào nhau (Griffin, Topol : Manual of Cardiovascular medicine , 3 rd ed. , 2009 )
Tuấn Anh
9/2009

Khó thở khi nằm vs. cơn khó thở kịch phát về đêm

Hôm nay chúng ta cùng xem xét một trường hợp bn bị suy tim. Qua khai thác bệnh sử các em thấy bn có các biểu hiện khó thở như sau :
- KT khi gắng sức.
- KT khi nằm ( kt tư thế).
- Cơn KT kịch phát về đêm.
Tôi có nêu ra câu hỏi : giữa KT khi nằm (1) và CKHKPVĐ (2) cái nào nặng hơn ?
Thật ngạc nhiên khi 50% các bạn trả lời là (1) nặng hơn và 50% trả lời (2) nặng hơn .
Tôi cũng hơi 'run' vì từ trước đến giờ tôi vẫn hướng dẫn các em là (2) nặng hơn (1) !!!

Cách giải quyết hay nhất là giở sách ra xem. May thay các em có mang theo quyển 'Triệu chứng học' edition mới nhất mà bộ môn nội vừa xuất bản. Theo sách này thì (1) nặng hơn (2).
Về nhà tôi lục tìm lại tất cả tài liệu về chuyện này thì thấy như sau :
- Đa số các sách cũng không nói rõ là kiểu khó thở nào nặng hơn. Tuy nhiên họ đều có khuynh hướng sắp xếp theo thứ tự như sau : KT khi GS --> KT khi nằm --> CKTKPVD --> phù phổi cấp. Như vây ta có thể hiểu như sau : CKTKPVĐ là bà con rất gần với cơn hen tim và sắp sửa 'nâng cấp' lên thành cơn PPC.

- Cuối cùng theo Braunwald 's Heart Disease ,7th edition (2005), p. 544 :
- Trong suy tim trái, KT có mức độ trầm trọng tăng dần như sau : KTKGS, KTKN, CKTKPVD, KT khi nghỉ ngơi và PPC.
- KT khi nằm : bn đang nằm thấy ngộp thở phải ngồi dậy , bn có thể thích nghi bằng cách kê thêm gối . Cơ chế : khi nằm, máu trở về tim nhiều , vươt quá khả năng nhận và tống máu của thất trái bị suy. Áp lực mao mạch và tĩnh mạch phổi tăng cao dẫn đến : phù mô kẽ, giảm độ đàn hồi của phổi , tăng kháng lực đường thở và khó thở.
- CKTKPVĐ : bn đang ngủ phải ngồi bật dậy. Ngạt thở, lo lắng , thiếu không khí. Có hiện tượng co thắt phế quản do sung huyết niêm mạc PQ, phù mô kẽ gây chèn ép các đường thở nhỏ khiến HH khó khăn. Khi kèm ran rít thì gọi là cơn hen tim.

Một vài điểm lưu ý :
- Theo tôi cả hai hình thái khó thở đều liên quan ít nhiều đến chuyện nằm ( còn chuyện đang thức hay đang ngủ không quan trọng lắm). Điều cần biết là KTKN thường đỡ rất nhanh ngay sau khi bn ngồi dậy và thòng hai chân xuống đất. Còn CKTKPVĐ thì cần ít nhất 30 phút mới đỡ KT phần nào.
- Mộ số SV có tả là trong CKTKPVĐ bn ngộp quá mở tung cửa sổ và đi vòng vòng hít thở không khí. Tôi có nói trong hoàn cảnh này thì khó có ai còn đủ sức đi lòng vòng . Tuy nhiên theo 1 tài liệu thì bn có thể 'đi uống nước !' . Vậy là các em cũng có phần đúng. Thực tế thì thay vì đi lòng vòng, bn se thuê xích lô hay taxi đi thẳng vô bệnh viện .
Tuấn Anh 9.2009

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2009

NHỮNG HẠN CHẾ CỦA PHÂN ĐỘ CHỨC NĂNG SUY TIM THEO NYHA

- 30 BS chuyên khoa tim mạch được thăm dò về các câu hỏi mà họ dùng để đánh giá độ NYHA trên các b/n suy tim . KẾT QUẢ : không có sự nhất quán giữa các BS và nghiên cứu các y văn cũng không thấy hướng dẫn về cách hỏi bệnh nhân .
- Cho 2 BS hỏi 50 bn có độ NYHA từ II-III để tìm inter observer variability : tỷ lệ tương đồng chỉ có 54% (tỷ lệ này gần như hên xui kiểu quăng đồng tiền sấp hay ngửa).
-70% BS hỏi về khoảng cách bn đi được, tuy nhiên khoảng cách bn đưa ra lại tương quan rất kém với khả năng gắng sức thật sự khi đo chỉ số tiêu thụ oxy. (nghĩa là có hỏi cũng như không hỏi).
KL :
- Không có hướng dẫn cụ thể giúp việc xếp độ NYHA được dễ dàng.
- Không có sự thốngnhất giữa các bS về chia độ NYHA.
- Khoảng cách bn đi được không chính xác và không tương quan với các đánh giá khách quan --> giá trị đáng nghi ngờ.

Ref : The limitations of the NYHA functional classification system and self reported walking distances in chronic heart failureClaire Raphael 1*, Cathy Briscoe 2, Justin Davies 3, Zachary Ian Whinnett 3, Charlotte Manisty 3, Richard Sutton 4, Jamil Mayet 5 and Darrel P Francis 2

http://heart.bmj.com/cgi/content/short/hrt.2006.089656v1


CHẨN ĐOÁN SUY TIM : CHUYỆN KHÔNG ĐƠN GIẢN

Một bệnh nhân bị hẹp van hai lá nhưng không có biểu hiện khó thở khi gắng sức hoặc khó thở khi nằm , hỏi rằng b/n đó có suy tim không ?

Cho đến ngày hôm nay chẩn đoán suy tim vẫn không phải đơn giản vì các tr/ch thường không đặc hiệu hoặc nếu đặc hiệu thì kém nhạy.
Ngay cả định nghĩa về suy tim cũng liên tục thay đổi theo thời gian. Trước kia có những khái niệm như suy tim foreward- backward, suy tim cung lượng thấp- cung lượng cao, suy tim tâm thu- tâm trương rồi ngày nay lại là suy tim có CN tâm thu thất trái giảm – CN thất trái bảo tồn.


  • Để xét xem b/n của chúng ta có suy tim không , hãy điểm qua một vài định nghĩa về suy tim.


  1. Suy tim là tình trạng sinh lý bệnh với bất thường về chức năng khiến tim không đủ khả năng bơm máu đáp ứng đủ nhu cầu chuyển hoá của cơ thể Braunwald E. Clinical manifestations of heart failure. In: Braunwald E (ed.). Heart Disease: A Textbook of Cardiovascular Medicine. Philadelphia: Saunders; 1988. p. 471–484Tuy nhiên sau đó, các tác giả hoàn thiện đn ST bằng cách thêm vô : “ hoặc có thể bảo đảm được nhu cầu chuyển hoá chỉ với sự gia tăng của áp lực đổ đầy”. Braunwald E, Grossman W. Clinical aspects of heart failure. In: Braunwald E (ed). Heart Disease: A Textbook of Cardiovascular Medicine. 4th Ed. Philadelphia: Saunders; 1992. pp 444–463. Như vậy, nếu b/n của chúng ta chưa có tr/ch LS thì ta có thể suy luận rằng mức độ hẹp của van hai lá không đủ khít để gây tăng áp lực đm phổi (nguyên nhân của khó thở) và như vậy b/n này CHƯA suy tim (loại trừ tình huống b/n quá ít vận động khiến việc lượng giá mức độ gắng sức bị sai).

  2. Xét đ/n suy tim gần đây của ACC/AHA : ST là một hội chứng LS phức tạp do hậu quả của bất cứ rối loạn nào về mặt cấu trúc hoặc chức năng của trái tim làm ảnh hưởng đến khả năng đổ đầy hoặc tống máu của tâm thất. Hunt SA, Baker DW, Chin MH, Cinquegrani MP, Feldman AM, Francis GS, et al. ACC/AHA Guidelines for the Evaluation and Management of Chronic Heart-Failure in the Adult: Executive Summary, A Report of the American College of Cardiology/American Heart Association Task Force on Practice Guidelines. Circulation 2001; 104: 2996–3007. Xét b/n trên qua đ/n này thì chưa chắc b/n không bị ST vì khi van hai lá bị hẹp ắt hẳn sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến đổ đầy thất trái. Vấn đề một lần nữa lại tuỳ thuộc mức độ hẹp và sự gia tăng áp lực trong nhĩ trái và đm phổi.

  3. Đ/n ST của ESC thì đòi hỏi b/n phải (a)có tr/ch cơ năng của ST khi nghỉ ngơi hoặc gắng sức và (b) có dấu hiệu thực thể của ST khi nghỉ ngơi. Ngoài ra trong trường hợp còn nghi ngờ thì xét thêm tiêu chuẩn (c) đáp ứng với điều trị. Remme WJ, Swedberg K. Task Force for the Diagnosis and Treatment of Chronic Heart-Failure, European Society of Cardiology. Guidelines for the diagnosis and treatment of chronic heart failure. Eur Heart J 2001; 22: 1527–1560

  4. Ngoài ra để chẩn đoán ST còn có nhiều tiêu chuẩn thí dụ như t/c của Framingham, của Boston … Tiêu chuẩn Framingham (Bảng 1) thì độ chuyên cao nhưng độ nhạy thấp và thường chính xác trên những b/n có bệnh đã tiến triển. Như vậy ngay cả khi b/n trên khi bệnh nặng hơn , ví dụ như có khó thở khi gắng sức hoặc khó thở khi nằm thì vẫn chưa thoả được t/c chẩn đoán ST của Framingham mặc dù nếu theo phân độ NYHA (bảng 3) thì b/n này được xếp vào NYHA II (khó thở nhẹ khi gắng sức ở mức độ bình thường) và thậm chí đã xếp vào stage C (theo phận độ 2001 của AHA/ACC về ST) [Bảng 2]

Tóm lại, ta nên coi ST như một căn bệnh có diễn tiến và để chẩn đoán ST cần có sự tích hợp (integration) của tất cả mọi dữ kiện – căn nguyên, tr/ch, dấu hiệu LS. X-Quang, siêu âm tim và gần đây là BNP.


Bảng 1 : Tiêu chuẩn Framingham để chẩn đoán ST


APPENDIX :Diagnosis of CHF requires the simultaneous presence of at least 2 major criteria or 1 major criterion in conjunction with 2 minor criteria.


Major criteria:


• Paroxysmal nocturnal dyspnea


• Neck vein distention


• Rales


• Radiographic cardiomegaly (increasing heart size on chest radiography)


• Acute pulmonary edema


• S3 gallop


• Increased central venous pressure (>16 cm H2O at right atrium)


• Hepatojugular reflux


• Weight loss >4.5 kg in 5 days in response to treatment


Minor criteria:


• Bilateral ankle edema


• Nocturnal cough


• Dyspnea on ordinary exertion


• Hepatomegaly


• Pleural effusion


• Decrease in vital capacity by one third from maximum recorded


• Tachycardia (heart rate>120 beats/min.)


Minor criteria are acceptable only if they can not be attributed to another medical condition (such as pulmonary hypertension, chronic lung disease, cirrhosis, ascites, or the nephrotic syndrome).



Bảng 2 : Phân độ ST theo ACC/AHANYHA ClassLevel of Impairment


StageDescription


A—high risk for developing heart failureHypertension, diabetes mellitus, CAD, family history of cardiomyopathy


B—asymptomatic heart failurePrevious MI, LV dysfunction, valvular heart disease


C—symptomatic heart failureStructural heart disease, dyspnea and fatigue, impaired exercise tolerance


D—refractory end-stage heart failureMarked symptoms at rest despite maximal medical therapyCAD, coronary artery disease; MI, myocardial infarction; LV, left ventricular.



Bảng 3 : Phân độ ST theo NYHA


I-No symptom limitation with ordinary physical activity


II-Ordinary physical activity somewhat limited by dyspnea (e.g., long-distance walking, climbing two flights of stairs)


III-Exercise limited by dyspnea with moderate workload (e.g., short-distance walking, climbing one flight of stairs)


IV-Dyspnea at rest or with very little exertion



CÓ THỂ CHẨN ĐOÁN HẸP VAN HAI LÁ MÀ KHÔNG CẦN SIÊU ÂM TIM ?










ĐỘ NHẠY VÀ ĐỘ CHUYÊN CỦA KHÁM LS TRONG VIỆC CHẨN ĐOÁN HẸP VAN HAI LÁ LÀ BAO NHIÊU ?










- Các dấu hiêu quan trọng :
- Tiếng T1 đanh : hai lá van ở vị trí xa nhau mãi đến cuối thời kỳ tâm trương nên khi đóng chúng ập mạnh vào nhau. Bình thường van ở vị trí áp sát gần nhau vào cuối tâm trương.
- Tiếng clac mở van : lá van dính nhau không thể di động tự do khi mở ra khiến nó phồng lên và bị dừng lại đột ngột .
- Tiếng rù tâm trương có nhấn mạnh tiền tâm thu (mất đi khi rung nhĩ). Một tiếng rù tâm trương không có nghĩa chắc chắn là hẹp hai lá vì nó có thể nghe khi có tăng lưu lượng máu qua van bình thường (thí dụ như bệnh thông liên thất).-
Tiếng T2 mạnh : tăng áp lực đm phổi.

Hẹp càng nặng khi :
- Thời gian từ T2 đến clac mở van càng ngắn.
- Thời gian của tiếng rù tâm trưng càng dài.
- Kèm các dấu hiệu của tăng áp lực đm phổi : T2 mạnh, lớn thất phải. hở van ba lá.
Lưu ý khi van bị hẹp năng và xơ cứng nhiều thì ta không nghe thấy tiếng T1 đanh và clac mở van.B/n này nên được thay van thay vì nong van.

TA

ĐỌC ĐIỆN TIM : TIẾP CẬN CÓ HỆ THỐNG


Click vô link dưới đây rồi download sẽ xem được toàn bài.




TA